Giỏ hàng

“Giải oan” cho thành phần SLS trong mỹ phẩm

Việc phổ biến các thông tin sai lệch về SLS khiến dư luận hoang mang, bất đồng. Vậy sự thật là gì? SLS trong mỹ phẩm có thực sự nguy hại cho sức khỏe như mọi người vẫn nghĩ? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé!

Tiểu sử SLS

SLS (hay sodium lauryl sulfate) được sử dụng như một thành phần trong dầu gội từ những năm 1930, khi đó nó được xem là một thành phần thay thế cho xà phòng. SLS hoạt động như một chất hoạt động bề mặt anion, giúp bụi bẩn và dầu từ tóc phân tán lơ lửng trong nước ở dạng hòa tan, nhũ hóa hoặc huyền phù để rửa trôi chúng. Nó cũng là chất tạo bọt hiệu quả tạo cảm giác sạch khi gội đầu,…

SLS có nguồn gốc từ dừa hoặc dầu hạt cọ (2 loại cây có nguồn acid lauric phong phú). Acid lauric này được xử lý bằng cách thêm acid sulfuric (từ dầu mỏ) vào và sau đó trung hòa bằng natri carbonate (một khoáng chất tự nhiên).

Hàm lượng biobase của SLS là 100%, nghĩa là tất cả carbon trong phân tử có nguồn gốc từ thực vật chứ không phải nguồn dầu mỏ không thể tái tạo.

*Hàm lượng biobase của một thành phần cho biết tỷ lệ phần trăm của các phân tử carbon trong công thức có nguồn gốc từ sinh khối (thực vật, VD dầu dừa, dầu cọ).

Có nhiều tin đồn vô căn cứ trên internet về SLS trong mỹ phẩm. Nếu gõ từ khóa “SLS trong mỹ phẩm có nguy hiểm không” sẽ cho ra  khoảng 18.600 kết quả tìm kiếm trong 0,44 giây; trong đó có thể liệt kê ra những tác hại phổ biến sau:

(Trích nguồn Internet)

Tin đồn vẫn chỉ là tin đồn

SLS gây rụng tóc

Báo cáo của CIR nêu rằng nồng độ SLS cao có thể ảnh hưởng đến tóc, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy SLS gây rụng tóc. Thay vào đó báo cáo khuyến nghị các mỹ phẩm dùng cho da không được chứa nồng độ SLS > 1% do khả năng lắng đọng trên nang lông. Kể từ năm 2015, không có bằng chứng khoa học nào được đưa ra khẳng định tiếp xúc với SLS gây rụng tóc.

Trong báo cáo của CIR, các nhà nghiên cứu đã xác định sự lắng đọng SLS trên lớp áo ngoài của nang lông nhưng không đưa ra kết luận về ảnh hưởng của sự lắng đọng SLS trên nang tóc. Không có cách nào chứng tỏ SLS phải chịu trách nhiệm/ góp phần gây ra rụng tóc mãn tính. Nhìn chung không có tài liệu khoa học nào hỗ trợ cho tuyên bố sản phẩm chứa SLS gây ra rụng tóc và điều này rất khó có thể xảy ra (dựa trên phạm vi sử dụng SLS rộng rãi trong thời gian lâu dài trong các sản phẩm chăm sóc tóc).

Độc tính cấp tính

Kích ứng mắt

Giống như hầu hết hóa chất, SLS có thể gây khó chịu cho mắt khi ở dạng nguyên liệu thô hoặc ở nồng độ cao. Ở nồng độ 0,1% khối lượng, SLS không gây dị ứng cho mắt của động vật thí nghiệm.

Khiến mắt bị tổn thương

SLS gây ra tổn thương nghiêm trọng ở mắt, có thể dẫn đến mù mắt”.

Trong nghiên cứu của Green và các cộng sự (đăng trên tạp chí Lens and Eye Toxicity Research), khi cho mắt bị tổn thương (vật lý/ hóa học) tiếp xúc với SLS nồng độ cao có thể làm chậm quá trình chữa lành tổn thương mắt. Tin đồn bị mù mắt hoặc tổn thương giác mạc nghiêm trọng khi mắt tiếp xúc với SLS trong các sản phẩm tiêu dùng cũng không có căn cứ.

Đục thủy tinh thể

Một thông tin sai lầm thứ hai về SLS là mối liên hệ của nó với bệnh đục thủy tinh thể. Trong nghiên cứu năm 1987 trên tạp chí Journal of Biological Chemistry và một số nghiên cứu khác, người ta đã nhúng thủy tinh thể của mắt vào dung dịch SLS đậm đặc ( sản phẩm rửa sạch chứa 20% SLS) để mô hình hóa sự hình hành đục thủy tinh thể. Dù SLS đậm đặc gây ra kích ứng mắt trong thí nghiệm trên nhưng thực tế hàm lượng SLS dùng trong mỹ phẩm rất nhỏ. Do vậy kết luận của thí nghiệm không phù hợp và không liên quan tới kết quả đánh giá phơi nhiễm SLS trong mỹ phẩm của con người.

Mặt khác, cần lưu ý việc giải phẫu mắt để thu lấy thủy tinh thể phục vụ cho thí nghiệm trên là không thể, vì nó nằm sâu trong mắt, được bảo vệ bởi giác mạc. Vì thế thủy tinh thể không dễ bị phơi nhiễm SLS thông qua sản phẩm chăm sóc cá nhân thông thường. Vậy nên những tuyên bố bất lợi về SLS không có được sự chứng thực mang tính khoa học.

Kích ứng da

“SLS có thể gây nhạy cảm cho da nghiêm trọng”.

Theo kết quả nghiên cứu về độc tính qua da, khi tiếp xúc với dung dịch SLS 1-2% khối lượng trong 24 giờ có thể làm tăng mất nước qua lớp sừng (lớp ngoài cùng của da) và gây viêm da nhẹ. Các xét nghiệm dị ứng (patch test) trên người trong 24 giờ xác định SLS ở nồng độ 2% gây kích ứng cho da bình thường. Mức độ kích ứng cũng tăng theo nồng độ SLS và thời gian tiếp xúc trực tiếp.

*patch test (hay test áp bì) là một phương pháp thử nghiệm để xác định liệu một chất cụ thể có gây viêm da dị ứng hay không.

Tuy nhiên, các sản phẩm này đều ở dạng rinse – off (tức là rửa sạch đi), thời gian tiếp xúc rất ngắn (vài phút chứ không phải trong vài giờ) và không phải lúc nào SLS trong mỹ phẩm cũng là nguyên nhân gây kích ứng da. Do đó nói SLS là chất nhạy cảm với da là không chính xác. Mặt khác các sản phẩm chăm sóc cá nhân chứa SLS đều đã được thử nghiệm độc tính và dán nhãn cảnh báo thích hợp cùng thông tin sơ cứu theo quy định.

Ăn mòn da

Hóa chất gây ăn mòn da được định nghĩa là những chất gây ra tổn thương không thể phục hồi hoặc phá hủy da khi nó tiếp xúc trực tiếp với da.

Dựa trên bảng dữ liệu an toàn của SLS, có thể thấy SLS không phải là vật liệu ăn mòn và cũng không yêu cầu bất cứ biện pháp phòng ngừa đặc biệt nào. Do vậy thông tin SLS trong mỹ phẩm gây ăn mòn da là không chính xác.

Độc tính qua miệng

SLS ở dạng nguyên liệu thô (nồng độ 100%) có giá trị liều gây chết trung bình (LD50) qua miệng chuột là 5000 mg/kg, thuộc nhóm chất rất ít độc. Tuy nhiên SLS trong công thức mỹ phẩm có nồng độ rất loãng nên có thể coi là không độc hại. Điều này lý giải vì sao SLS được FDA cho phép sử dụng làm phụ gia thực phẩm gián tiếp/ trực tiếp.

Độc tính mãn

Ở nồng độ thấp, không có bằng chứng đầy đủ về tác động về lâu dài tới sức khỏe của SLS (như gây đột biến, độc tính sinh sản và phát triển, nhiễm độc thần kinh, rối loạn nội tiết). Theo cơ sở dữ liệu Toxnet của National Library of Medicine US, SLS không phải là chất gây đột biến/ bị nghi ngờ là gây đột biến, không phải chất độc sinh sản/ phát triển, không phải chất độc thần kinh hoặc chất gây rối loạn nội tiết.

Thông tin khiến người tiêu dùng lo ngại nhất là SLS gây ung thư. Nguồn gốc của thông tin này có lẽ bắt nguồn từ việc hiểu sai các tài liệu khoa học. Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy SLS là chất gây ung thư, SLS cũng không có tên trong danh sách các chất gây ung thư (theo International Agency for Research on Cancer [IARC]; U.S. National Toxicology Program; California Proposition 65 list of carcinogens; U.S. Environmental Protection Agency và European Union)

Những nhận thức tin rằng SLS là chất gây ung thư thường dựa trên các nghiên cứu dùng SLS để đánh giá khả năng gây ung thư của các tác nhân khác (như nghiên cứu của Birt và các cộng sự). Tuy nhiên nghiên cứu này có kết quả không chính xác, vì SLS trong nghiên cứu được sử dụng như một chất để hòa tan các tác nhân đang được thí nghiệm, từ đó gây ra những hiểu nhầm về độc tính mãn của SLS.

Một số báo mạng đề cập SLS là chất gây ung thư do phản ứng hóa học giữa SLS và formaldehyd tạo ra sản phẩm phụ là nitrosamine (một chất gây ung thư, công thức R1N(–R2)–N=O). Tuy nhiên, thực tế SLS và formaldehyd không thể phản ứng với nhau tạo thành nitrosamine được bởi cả hai hợp chất này đều không chứa nguyên tử nitơ trong cấu trúc. Việc dùng mỹ phẩm chứa SLS không có bất cứ mối liên hệ nào với nitrosamine.

Nhiều nguồn tin cho rằng SLS có thể chứa tạp 1,4-dioxane gây ung thư. Tuy nhiên quy trình điều chế SLS không có bước ethoxyl hóa như SLES nên có thể loại trừ nguy cơ nhiễm tạp 1,4-dioxane. Mối lo ngại chỉ có thể đến từ khả năng nhiễm chéo, tuy nhiên bạn có thể yên tâm vì quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ và thành phẩm SLS sản xuất ra đều được kiểm nghiệm hóa học, đảm bảo độ tinh khiết theo yêu cầu.

Độc tính với nội tạng

“SLS hấp thụ vào máu, tích tụ trong tim, gan, phổi và não gây ra tổn thương”.

Trong báo cáo của CIR, khi dùng trực tiếp trên da, một lượng rất nhỏ SLS có thể được hấp thụ qua da; còn phần lớn SLS vẫn ở trên bề mặt da. SLS được hấp thu vào máu sẽ được gan chuyển hóa nhanh chóng thành các chất tan trong nước, và được bài tiết nhanh qua nước tiểu, phân và đôi khi qua hơi thở.

Không có bằng chứng nào cho thấy SLS tích lũy trong các cơ quan quan trọng trong cơ thể, SLS cũng không gây ra độc tính toàn thân hoặc tổn thương nội tạng. Như vậy những thông tin SLS tích lũy trong cơ thể và gây hại cho nội tạng là không chính xác.

Các chứng nhận an toàn

Độ an toàn của SLS trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân đã được các tổ chức có uy tín trên thế giới như:

  • EPA (Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ) đã miễn trừ việc quy định nồng độ dư lượng SLS ở mức sử dụng tối đa là 350ppm (khi nó được sử dụng trong sản phẩm rửa sạch những bề mặt tiếp xúc với thực phẩm tại các khu ăn uống công cộng, thiết bị chế biến sữa, thiết bị và dụng cụ chế biến thực phẩm)
  • FDA xếp SLS vào danh sách các chất phụ gia đa năng được phép thêm trực tiếp vào thực phẩm và được phê duyệt làm phụ gia thực phẩm gián tiếp
  • SLS có thể được sử dụng trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân được bán trên thị trường Châu Âu (theo Cosmetics Directive of the European Union)
  • Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế gồm hơn 30 quốc gia phát triển xem xét các mối nguy hiểm của SLS cho con người và môi trường và kết luận thành phần này và kết luận thành phần này không gây ra nguy hại cho sức khỏe con người về lâu dài.
  • Hội đồng chuyên gia về các thành phần mỹ phẩm CIR năm 2005 đánh giá thành phần này an toàn khi sử dụng như một thành phần làm sạch trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cá nhân
  • Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế thế giới, Cơ quan nghiên cứu ung thư, Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu công nhận SLS không phải chất gây ung thư.

Mong rằng sau bài viết này chị em sẽ có cái nhìn đúng đắn về thành phần SLS trong mỹ phẩm. SLS trong mỹ phẩm an toàn đối với sức khỏe người dùng chứ không hề độc hại như nhiều thông tin trên mạng nhé!