1. Sơ lược về SLES

SLES (hay sodium laureth sulfate) là một chất hoạt động bề mặt ethoxylate, chứa các phân tử carbon có nguồn gốc từ dầu mỏ, hàm lượng biobase 76%

*Hàm lượng biobase của một thành phần cho biết tỷ lệ phần trăm của các phân tử carbon trong công thức có nguồn gốc từ sinh khối thực vật  (VD dầu dừa, dầu cọ).

SLES được tạo ra từ phản ứng của ethylene oxide 1,4-dioxane. Cả hai thành phần trên đều có khả năng gây ung thư, nhưng qua phản ứng Ethoxylation tạo ra SLES thì lượng ethylene oxide hoàn toàn được sử dụng hết và 1,4-dioxane nếu còn bất cứ dấu vết nào thì nó cũng thấp hơn mức có thể trở thành nguy cơ tiềm năng đe dọa sức khỏe của con người tới 6000 lần. Mặt khác 1,4-dioxane có thể được loại bỏ trong quá trình sản xuất bằng cách hút chân không.

SLES phổ biến trong dầu gội đầu, gel tắm, sữa rửa mặt và cũng có thể tìm thấy trong nước rửa chén, kem đánh răng. Nó được sử dụng trong mỹ phẩm như một chất tẩy rửa, giúp tạo ra bong bóng và bọt. SLES là một thành phần làm sạch hiệu quả và có hoạt tính hóa học nhẹ hơn so với SLS nên thường được khuyến khích sử dụng nhiều trong các công thức mỹ phẩm.

2. “Giải oan” cho SLES

Có rất nhiều tin đồn bủa vây xung quanh chất hoạt động bề mặt ưu việt này, tiêu biểu như:

 (Trích nguồn Internet)

Nhiễm độc cấp tính qua miệng

Độ độc cấp tính qua miệng chuột bạch tạng (LD50) là 3,2 hoặc 3,8 ml/kg. Một nghiên cứu khác cho giá trị > 2,9 g/kg. Theo đó SLES có độ độc cấp tính thấp với chuột. Các triệu chứng khi tiếp xúc với SLES tại giá trị LD50 và khoảng xung quanh giá trị này là lờ đờ, tiêu chảy. Tuy nhiên SLES trong công thức mỹ phẩm có nồng độ rất loãng nên có thể coi là không độc hại.

Kích ứng da/ da đầu, rụng tóc

Nhiều nghiên cứu patch test với SLES trên da trong vòng 24-48 giờ được tiến hành ở nhiều nồng độ khác nhau. Kết quả, mức độ kích ứng không phụ thuộc vào nồng độ SLES thử nghiệm:

  • Kích ứng nghiêm trọng khi dùng ở nồng độ 15% gặp trong 3 ngày liên tiếp, nhưng các nghiên cứu tương tự ở nồng độ 17,5% chỉ gây ra kích ứng nhẹ.
  • Các thí nghiệm ở nồng độ 26 và 28% tạo ra kích ứng nhẹ và trung bình, và một thí nghiệm ở nồng độ 58% không gây ra kích ứng.
  • Thí nghiệm với nồng độ 30% trong 3 ngày gây ra kích ứng nghiêm trọng.

Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của SLES trên da đầu và tóc trong 65 ngày liên tiếp thì thấy:

  • Nồng độ 60% gây ra viêm và có biểu hiện tăng sinh thượng bì, hình thành u nang biểu bì và rụng tóc lan tỏa.
  • Nồng độ 30% gây ra những thay đổi tương tự nhưng ít nghiêm trọng hơn và nồng độ 9% không gây ra thay đổi.

Cần phải nhớ rằng các mỹ phẩm chứa SLES đều ở dạng rinse – off (rửa sạch đi), thời gian tiếp xúc rất ngắn (vài phút chứ không phải trong vài giờ), khác xa với điều kiện thử nghiệm và không phải lúc nào SLES trong mỹ phẩm cũng là nguyên nhân gây kích ứng da. Do đó nói SLES là chất nhạy cảm với da/da đầu, gây ra rụng tóc là không chính xác. Mặt khác các sản phẩm chăm sóc cá nhân chứa SLES đều đã được thử nghiệm độc tính và dán nhãn cảnh báo thích hợp cùng thông tin sơ cứu theo quy định.

Kích ứng mắt

“SLES trong mỹ phẩm gây ra tổn thương cho mắt. Dù có lọt vào mắt hay không thì khi bôi trực tiếp lên da có thể đo được nồng độ SLES trong mắt trẻ em. Tổn thương này là vĩnh viễn, không thể phục hồi.”

Thí nghiệm khả năng gây kích ứng mắt ở thỏ bạch tạng ở nồng độ 1,3-58%, kết quả dao động từ không kích ứng đến tổn thương mắt nghiêm trọng mà không phụ thuộc vào liều.

Trong báo cáo an toàn về SLES, CIR khẳng định mặc dù có thể gây kích ứng da và mắt nhưng SLES được sử dụng an toàn ở nồng độ báo cáo (0,1-50%). Trên cơ sở những thông tin có sẵn, CIR kết luận SLES an toàn khi được sử dụng trong mỹ phẩm.

Các sản phẩm tiêu dùng chứa SLES đều được thử nghiệm về khả năng gây kích ứng mắt, dán nhãn sản phẩm với các cảnh báo phù hợp cùng thông tin về cách sơ cứu theo yêu cầu ghi nhãn bắt buộc của CPSC.

Độc tính cận lâm sàng và độc tính mãn tính

Trong một nghiên cứu cận lâm sàng, khi thêm SLES ở liều 1000ppm trong 13 tuần và liều 5000ppm trong 2 năm vào đồ ăn của chuột rồi quan sát (bằng mắt thường và dưới kính hiển vi) đều không nhận thấy những tác động của SLES lên chuột.

Thử nghiệm trên chuột Carnworth Farm “E” ở liều 40, 200, 1000 hoặc 5000ppm trong 13 tuần thì thấy: khi chuột được cho ăn mức 5000ppm sẽ dẫn đến tăng trọng lượng tuyệt đối của thận (ở con đực) và tăng trọng lượng tuyệt đối của tim, gan và thận (ở con cái), tuy nhiên không có sự thay đổi về trọng lượng tương đối.

Thử nghiệm dung dịch SLES 5% trên chuột Swiss cái 2 lần/ tuần trong 105 tuần, rút ra được kết luận nó không phải là tumourigenic (chất có thể gây ung thư). Không có bằng chứng nào chứng minh SLES là chất gây ung thư và SLES cũng không được phân loại vào nhóm chất gây ung thư.

(theo European Chemical Agency/ECHA; Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ (IARC); U.S. National Toxicology Program; California Proposition 65 list of carcinogens; U.S. Environmental Protection Agency)

“SLES nhiễm tạp Ethylene oxide và/ hoặc 1,4-dioxane gây ung thư”

Theo đánh giá của Bộ Y tế Canada, 2 hóa chất này không đáp ứng được định nghĩa pháp lý về chất độc hại trong mỹ phẩm do mức độ phơi nhiễm thấp hơn mức có thể gây ra nguy hiểm cho sức khỏe con người.

Một lượng nhỏ SLES cũng có thể được cơ thể hấp thụ khi bạn dùng nó trực tiếp trên da. Tuy nhiên, dựa theo kết quả của những nghiên cứu cận lâm sàng trên thì vấn đề này thực sự không đáng để lo ngại.

Nghiên cứu khác (độc tính sinh sản, phát triển)

Thêm SLES ở mức 0,1% vào khẩu phần ăn của chuột đực và chuột cái trong vòng 14 tuần không gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, quy mô lứa đẻ, sự tiết sữa và khả năng sống sót của con non.

Cụ thể: Thế hệ đầu tiên được duy trì chế độ ăn giống chuột bố mẹ và được cho giao phối khi được 100 ngày tuổi. Con của nó được cho ăn cùng chế độ đó trong 5 tuần. Không nhận thấy sự thay đổi khi xét nghiệm huyết học, phân tích nước tiểu; khi quan sát bằng mắt thường cũng như dưới kính hiển vi.

3. Các chứng nhận an toàn

  • Năm 2010, CIR công nhận là thành phần SLES an toàn khi sử dụng trong mỹ phẩm và sản phẩm chăm sóc cá nhân.
  • SLES không được các tổ chức có uy tín phân loại vào nhóm chất gây ung thư (theo European Chemical Agency/ECHA; Cơ quan Nghiên cứu Ung thư hoa kỳ (IARC); U.S. National Toxicology Program; California Proposition 65 list of carcinogens; U.S. Environmental Protection Agency)
  • HERA (viết tắt của Human and Environmental Risk Assessment – chuyên cung cấp các thông tin vô tư, minh bạch, đã được đánh giá một cách khoa học) kết luận SLES an toàn và không phải nguyên nhân gây ra những lo ngại liên quan đến việc sử dụng mỹ phẩm của người tiêu dùng.

4. Kết luận

Qua bài viết trên, có thể khẳng định SLES có một hồ sơ an toàn khá đầy đủ và để an toàn thì với bất cứ mỹ phẩm nào, điều quan trọng là bạn phải làm theo hướng dẫn trên nhãn khi sử dụng. Để trở thành người tiêu dùng thông thái, bạn nên tỉnh táo trước những tin đồn vô căn cứ lan truyền trên mạng nhé!

 


Bài viết cũ hơn Bài viết mới hơn

Bình luận